Vì đâu ta bị Viêm xoang:
Xoang là những khoang rỗng nằm trong khối xương sọ mặt. Các xoang có chức năng làm nhẹ khối xương sọ, làm ẩm và lọc không khí đi vào mũi. Các xoang đều thông với hốc mũi. Xoang bình thường khi lổ mũi thông mũi không bị nghẽn.
Mọi tác nhân gây phù nề trong xoang hay cản trở dẫn lưu chất tiết ra khỏi xoang đều có thể gây viêm xoang. Thường gặp nhất là do vi khuẩn. Hầu hết trong cơ thể mỗi chúng ta đều có hàng triệu vi trùng cư trú trong đường hô hấp trên, những vi trùng này vô hại, nhưng khi hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy giảm hoặc dẫn lưu xoang bị cản trở do cảm lạnh và một số nguyên nhân khác, vi khuẩn sẽ phát triển gây ra viêm xoang.
Đề phòng ngừa viêm xoang:
Sắp xếp thời gian làm việc và nghỉ ngơi thích hợp, chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng và luyện tập để duy trì sức đề kháng chung chống nhiễm trùng.
Giữ sạch môi trường xuang quanh, tránh xa khói thuốc lá, bụi và các chất ô nhiễm. Đeo khẩu trang khi ra đường và tránh làm việc nhiều nơi có bụi bặm hóa chất... Vệ sinh cơ thể, rửa tay thường xuyên, tránh uống bia rượu và các chất kích thích khác.
Các thể bệnh viêm xoang gồm:
Viêm xoang cấp tính:
Nguyên nhân phổ biến nhất là viêm mũi, do cảm, cúm, đôi khi do viêm họng. Viêm xoang do răng, đối với xoang hàm, chiếm khoảng 10%, do apxe quanh cuống răng, apxe quanh dây chằng ổ răng, vv. Ngoài ra, có thể do tắm (nhảy cầu, lặn), do chấn thương, do áp lực thay đổi đột ngột khi đi máy bay, do dị vật ở mũi, vv. Các bệnh cúm, sởi, ho gà thường có biến chứng viêm xoang. Viêm phổi do phế cầu khuẩn hay kèm theo viêm xoang, trong trường hợp này, khó phân biệt đâu là bệnh nguyên phát, đâu là biến chứng.
Nhân tố thuận lợi cho viêm xoang phát triển là môi trường ô nhiễm, ăn ở kém vệ sinh; vách ngăn mũi bị vẹo, dị ứng, u lành, u độc ở mũi; tình trạng của phổi-phế quản: viêm xoang-giãn phế quản(hội chứng Mounier - Kuhn), kết hợp viêm xoang-giãn phế quản với tật tim sang phải (hội chứng Kartagener).
Vi sinh vật gây viêm xoang cấp cũng là những vi sinh vật gây viêm nhiễm cấp tính đường hô hấp trên
.
Viêm xoang hàm cấp:
Bắt đầu như sổ mũi thông thường nhưng kéo dài rồi xuất hiện cơn đau ở vùng dưới ổ mắt, một bên, đau xuyên về phía hàm răng. Đau tăng lên khi gắng sức, khi nhai, khi nằm. Cũng như trong viêm xoang trán cấp, đau có khi hai chu kỳ, nhưng không rõ rệt. Có điểm đau rõ dưới ổ mắt, hốc mũi xung huyết. Sau khi làm co niêm mạc, thấy mũi chảy mủ, không có mùi thối, có thể lẫn máu. Thường tiến triển tốt khoảng 10 ngày.
Trường hợp viêm xoang do răng, thường có sâu răng hàm nhỏ hoặc răng hàm, ổ apxe quanh chân răng, mủ chảy vào trong xoang. Bệnh nhân đau nhức răng dữ dội, lợi quanh răng thường sưng. Vài ngày sau, mủ thối đổ ồ ạt vào xoang. Nhổ bỏ răng sâu có thể khỏi bệnh nhanh chóng.
Viêm xoang mạn tính:
Viêm xoang trở thành mạn tính là do ổ viêm xương ở thành xoang như viêm xoang do răng. Mạn tính liên quan đến sự biến đổi không phục hồi của niêm mạc.
Nguyên nhân: vi sinh vật gây bệnh, các nhân tố viêm xoang tương tự như trường hợp cấp tính.
Biến đổi niêm mạc là bệnh lí quan trọng trong viêm xoang mạn tính. Niêm mạc có thể dày lên, quá sản, dị sản, biến thành polip hoặc sơ hóa và teo. Hai trường hợp này có thể cùng xảy ra trong một trường hợp, nơi dày, nơi teo. Có khi niêm mạc quá sản trở thành dạng nhú, có tác giả cho rằng đó là do hậu quả nhiễm virut. Ngoài ra, còn có thể thấy nhiều nang lympho cũng như tăng tế bào tuyến trong viêm xoang mạn tính.
Dịch tiết trong xoang cũng thay đổi, quánh hơn. Tế bào lông nhiều nơi bị hỏng và chuyển động của tế bào lông trong dịch tiết quánh bị hạn chế, chậm hơn hoặc ngừng lại, do đó việc thải các chất cũng như virut, vi khuẩn qua lỗ thông tự nhiên bị giảm sút nhiều , có trường hợp hầu như ngừng trệ, xoang bị ứ đọng tạo điều kiện bội nhiễm. Lỗ thông xoang bị tắc nhiều hơn so với các thể bệnh cấp tính.